Tản mạn về phong cách nhà văn – Hàn Mặc Tử


Phong cách nhà văn, được hiểu theo một công thức quen thuộc: phong cách xét từ hai mặt nội dung và hình thức. Nội dung bao hàm ba phương diện: cách nhìn – cách cảm – cách đánh giá. Hình thức xét ở hai mặt: cách lựa chọn và cách thể hiện. Nhà văn có phong cách tức là các mặt biểu hiện trên phải độc đáo, sáng tạo, mang dấu ấn cá tính riêng biệt. Cơ sở hình thành nên một phong cách nhà văn là yếu tố dân tộc – lịch sử – thời đại ; đồng thời còn là những nét riêng trong đời tư, các nhân tố gia đình, dòng tộc, quê hương… Tất cả những điều này chi phối, định hướng việc tìm hiểu phong cách tác giả trong văn học nhà trường, thành nếp tư duy quen thuộc và ít nhiều làm mất cảm hứng sáng tạo trong cảm nhận nét hấp dẫn, sức sống tác phẩm toát lên từ phong cách nhà văn. Trên trang riêng này, thử một lần thoát khỏi tư duy nhà giáo để làm một người cảm thụ thuần túy xem sao!


Trong số các nhà văn nhà thơ, có lẽ ấn tượng nhất với tôi là Hàn Mặc Tử. Từ những ngày xưa khi còn là học trò, đã ám ảnh bởi những câu thơ Hàn:
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

(Đây thôn Vĩ Dạ)

Để rồi đến khi thành sinh viên, năm 1987, niềm vui lớn lao chính là khi mua được quyển “Thơ Hàn Mặc Tử”. Đến lúc đó, mới thật sự làm một hành trình đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử trong thơ. Nhưng điều khiến tôi nhớ về Hàn, hình dung về Hàn có phần nào ảnh hưởng từ Chế Lan Viên, trong bài tựa “Hàn Mặc Tử, anh là ai”: “Bây giờ thì Hàn Mặc Tử nằm đây, trên điểm cao Gành Ráng này, đối diện với bể Đông. Bể chói lòa như thơ Anh và giông bão tựa đời Anh”. Chế quả thật là một trong những tri âm của Hàn, khi hai con người cùng “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” từ thuở cùng là chủ soái của “trường thơ Loạn”, cùng tự nhận mình là điên, là say, là người mơ, người thơ… Kể cả khi thơ lãng mạn trong nhà trường bị xem là “bạc nhược, suy đồi” thì Chế vẫn mượn lời Hàn đề từ cho bài thơ của mình: “Người Thơ phong vận như Thơ ấy”. Mới thấy, lời quả quyết của hơn 40 năm trước của Chế cùng lời tựa năm 1987 nhất quán một cách đánh giá: “Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử”. Dẫu cho trong thời điểm 1987, bài viết của Chế Lan Viên còn nhiều phen phải đóng vai trò thầy cãi để chứng minh sự trở lại xứng đáng trên văn đàn Việt Nam của Hàn. Cũng phải thôi, vì văn học Việt Nam đến thời điểm đó mới bừng tỉnh và đang dè dặt những bước chân trên hành trình đổi mới. Việc quy chụp quan điểm, khắt khe với dòng văn học trước cách mạng vẫn còn nặng nề. Bài viết mang tính “định hướng” cách tiếp cận Hàn Mặc Tử phần nào chi phối cảm xúc, nhưng khi đọc hết tập thơ, người viết bài này đã hoàn toàn bị hút vào không gian thơ Hàn Mặc Tử, không phải bằng cảm giác của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam khi lạc bước vào một vườn thơ “rộng rinh và ớn lạnh” mà bằng tất cả sự trong trẻo của một tâm hồn mê đắm văn chương một cách trong trẻo và thánh thiện của một sinh viên khoa Văn.
Có thể bây giờ, khi đã qua tuổi 40, lòng không còn trinh bạch như buổi đầu lưu luyến ấy, nhưng Hàn vẫn có một sức hút, nỗi ám ảnh dị thường.
Một Hàn Mặc Tử đã sống trong thơ “bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn”, sống một cách “mãnh liệt và đầy đủ”, sống bằng cách “phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu”, “đã vui buồn, giận hờn đến gần đứt cả Sự Sống”. Phát biểu của chính Hàn Mặc Tử là quan niệm thơ thành thực bậc nhất, chính xác đến từng câu chữ, hình ảnh, giọng điệu trong sáng tác của Hàn. Người Thơ ấy chỉ sống trên dương thế 28 năm, nhưng sức sống từ thơ Hàn đã vượt qua mọi giới hạn thời gian. Thiết nghĩ Hàn mới chính là người đã đẩy Thơ Mới đi đến tận cùng hành trình hiện đại hóa, một cách hết sức tự nhiên bằng bản năng thi nhân của Hàn.
Chu Văn Sơn có lí khi gọi thi pháp của Hàn là “Thi học của cái tột cùng”. Nhưng tôi hoàn toàn không thích cái cách tiếp cận Hàn bằng lối hàn lâm kinh viện của anh, ngồn ngộn kiến thức, uyên bác thật đấy, nhưng đọc xong rồi cảm thấy ngờ ngợ vì dường như đó không phải là Hàn của mình, Hàn như mình hình dung và yêu mến! Dù cho luận thuyết của anh về Hàn cũng có những lúc gật gù tâm đắc “Thế là đau thương! Thế mới đau thương!” khi khảo sát về tập Đau thương - tức Thơ Điên của Hàn, nhiều người gật gù theo nhưng riêng tôi không cảm được! Cũng đành, biết sao!
Hàn Mặc Tử, với tôi, là người đem đến cho thơ cái rụt rè buổi đầu trinh bạch trong tình yêu, với những cảm giác sống động cựa quậy trong từng câu chữ:
“Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
Dám ôm hồn Cúc ở trong sương”

Trạng thái “tình trong như đã mặt ngoài còn e” từ thời Nguyễn Du phải đến Hàn mới thật sự đốt thiêu tâm hồn bằng ngọn lửa tình ngùn ngụt nhưng lại che đậy bằng dáng vẻ bên ngoài “bẽn lẽn” ngượng ngập của người “gái quê” chân chất:
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em

Chân dung Gái quê cũng là chân dung của Hàn trong khoảnh khắc đầu tiên đặt chân trên con đường cách tân để làm một hành trình thơ mới thoát thai khỏi cách nhìn cũ, cảm nhận cũ. Hồn xưa Lý Bạch vẫn còn đó trong làn gió Đường thi của bài Xuân Tứ, nhưng lại rất phương Tây trong nụ hôn làm hồng đôi má giai nhân! Lại thêm cái tươi mát của ca dao dân Việt gợi cảm với lối xưng “em” rất nữ tính, gợi về vẻ đẹp “Thân em như chẽn lúa đòng đòng – Phất phơ dưới ngọn nắng hồng sớm mai”. Nghĩa là Hàn không đi tìm cái mới trong việc miệt mài tìm tứ lạ, “khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen” như Xuân Diệu mà chủ động tìm một lối của riêng mình. Hàn đã thật ngạo nghễ khi phê phán Baudelaire bùng nhùng giữa dục tính và tình cảm, trong lá thư gửi người bạn thơ Hoàng Trọng Miên để tuyên ngôn quan niệm thơ của mình.
Chọn con đường này, Hàn đã phát huy sức sáng tạo bùng nổ của mình trong những bài thơ tuyệt tác của tập Đau thương. Có lẽ trong cuộc so tài để chứng tỏ cái ngạo khí thi sĩ phương Đông với tác giả Hoa Ác - nhà thơ Baudelaire, Hàn đã phải đối diện với tư cách con chiên của Chúa, vượt qua lời nguyền thành “thi sĩ của đội quân Thánh giá”, nên đã có lúc Hàn nguyện với lòng sẽ đốt tập Thơ Điên để giữ trọn “Sự trong sạch của tâm hồn” trước khi về nước Chúa chăng? May thay, những người bạn đã làm trái di nguyện của Hàn, để cho bao thế hệ sững sờ với những câu thơ có sức quyến rũ ma mị, đôi khi chỉ cảm mà không cần thiết hiểu. Vả chăng, Hàn cũng đã sám hối trong thơ rồi còn gì, bằng tất cả sự tôn sùng dành cho Đức Mẹ Đồng Trinh và Thiên Chúa:
Xin thứ tha những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng

Có thể qua từng chặng Đau thương : Hương thơm – Mật đắng – Máu cuồng và Hồn điên ta chứng kiến một tâm hồn nhỏ máu vì bị tách ra khỏi cuộc đời yêu thương bởi căn bệnh quái ác, bị cách ly bởi những thành kiến nghiệt ngã của người đời. Nhưng hạnh phúc biết bao khi Hàn nhận phần đau thương bỏng rát về mình, để đem cho Đời “những dòng thơ rất mát”.
Hỡi những ai đọc Hàn, hãy đừng quá chú tâm vào tài năng thơ có thể làm nên những bài đọc xuôi, đọc ngược theo 6 cách như “Cửa sổ đêm khuya” mà hãy lắng nghe tiếng lòng của Hàn đau đáu vọng vang trong từng câu chữ:
Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Chẳng có niềm trăng và ý nhạc
Có nàng cung nữ nhớ thương vua

Khúc cung oán sầu hận ấy là lòng đau của chính Hàn, nhập vào nỗi niềm cung nữ. Đâu phải là nỗi cô đơn thi sĩ làm dáng mà là nỗi đau thực sự của một Con Người. Con Người ấy đã từng yêu biết bao nhiêu Mùa Xuân Chín:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây

(…)
Có mùa xuân nào tình tứ và ý nhị thế chăng? Hình ảnh mùa xuân tươi tắn non tơ như tâm hồn thi sĩ dạt dào bao cảm xúc lãng mạn. Có nét tương đồng giữa Hàn Mặc Tử và Lưu Trọng Lư trong cách cảm nhận Hương thơm của tình yêu với vẻ rụt rè như chàng trai mơ mộng hóa thân thành “khách xa”, chiêm ngưỡng bức tranh non tơ của thiên nhiên, lắng nghe âm thanh trong vắt của “bao cô thôn nữ”. Cứ xa xa mà ngắm, vậy mà đã rạo rực xuân tình trong cảm giác rất mãnh liệt vang lên thành tiếng, hiện ra thành hình: sột soạt, vắt vẻo, hổn hển, thầm thĩ… để cho lòng chàng dậy lên một nỗi “bâng khuâng” giấu mình trong hoài niệm.
Thế giới của Hàn sáng láng nguồn cảm xúc, linh động những cảm xúc trong một không gian luôn cựa quậy câu chữ hình ảnh, ngay cả trong những lúc tưởng như tĩnh lặng, lắng đọng nhất. Ảo và Thực như trộn hòa, không cần phải cố gắng dụng công trong ngữ âm, trong điệp từ. Với Hàn, làm thơ là để cho cảm xúc cứ thế bật lên thành lời, thành nhạc:
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng…
Hàn Mặc Tử gọi Trăng như chú mục đồng gọi nghé, để trăng hiện lên thật lung linh, huyền hồ, ma mị, bỡn cợt, trêu ngươi, rã rượi trong tuyệt vọng nhưng cũng khắc khoải bao khát vọng. Hàn có cả một Bến sông Trăng để thỏa thuê lặn ngụp, biến hóa, trửng giỡn, đê mê.
- Ha ha! Ta đuổi theo trăng, ta đuổi theo trăng
Trăng bay lả tả ngả trên cành vàng…
- Áo ta rách rưới trời không vá
Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng…
- Một miệng ta trăng là trăng
Lòng ta là vô số gái hồng nhan…
- Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu r
a

- Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Chẳng có một nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm

Chợt nhớ một kỉ niệm cùng Nguyễn Mạnh Quân – người bạn thân hồi còn là sinh viên điêu khắc, là người Quy Nhơn nên chọn đề tài là tượng Hàn Mặc Tử. Cả hai đã cùng lang thang trong Quy Hòa, đã nghiền ngẫm lại tập thơ của Hàn cả hàng mấy tháng trời, đã băn khoăn đi tìm một biểu tượng về Hàn: hoa cúc hay là trăng? Để rồi, bức tượng gỗ mít tạc chân dung Hàn Mặc Tử của Quân đã được chấm điểm cao tuyệt đối và được giữ lại trưng bày ở khoa Điêu khắc trường Mỹ Thuật Huế. Bức tượng bán thân được tạc cách điệu, với khuôn ngực Hàn là một khối âm mang hình vầng trăng khuyết. Vầng trăng đã được anh bạn chọn như là linh hồn, sự sống của Hàn, đã chinh phục những giám khảo điêu khắc khó tính nhất. Tôi chỉ được xem bức ảnh chụp bài thi đã rùng mình, bởi chợt nhớ câu thơ Hàn:
- Hôm nay có một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Ta nhớ mình xa thương đứt ruột

Vầng trăng – một nửa ấy là một cảm nhận hoàn toàn khác với “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” của Nguyễn Du, nhưng lại giống lạ kì ở phẩm chất của những kẻ trót sinh ra cùng một “nòi tình”! Nửa trăng của Hàn “ai cắn vỡ” đã hiện hữu như một biểu tượng đau thương của một hồn thơ luôn khao khát hòa nhập giữa cuộc đời:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Thần thái của thơ Hàn là từ vầng trăng đợi chờ, vầng trăng đau thương một nửa kia. Để thành thơ, thành tình người vô lượng:
Tôi ước ao là tôi ước ao
Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao
Như bông trăng nở, bông trăng nở
Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào

Vầng trăng khuyết ấy, trái tim đau ấy đang phiêu du ở một chốn nào, đang “chơi giữa mùa trăng” liệu có kịp về với bến sông Trăng?
2.12.2011
TRẦN HÀ NAM

Rèn luyện cảm xúc…

Giữ được cảm xúc cho những tác phẩm đã đọc đi đọc lại thật là một vấn đề nan giải. Nhưng nếu chịu khó rèn luyện có lẽ cũng không khó để nuôi dưỡng cảm xúc! Điều duy nhất có thể làm chính là luyện viết, tập diễn đạt! Đọc đi đọc lại một tác phẩm nào đó, sẽ có cảm hứng viết cho những suy nghĩ mới mẻ của mình! Chỉ cần dành chút thời gian cho văn chương thì văn chương không phụ. Và một điều nữa, tác phẩm văn chương sẽ có thêm nhiều ý nghĩa nếu như ta biết liên hệ với thực tế, viết qua trải nghiệm của bản thân. Mà trải nghiệm của con người thì không ngừng đầy đặn thêm cùng thời gian. Bởi thế mà mới có câu “thầy già, con hát trẻ”! Rồi sẽ đến lúc những nhu cầu diễn đạt hình thức tân kì qua đi, cái còn lại chính là độ sâu của lời văn, độ chín của tư duy.
Có lẽ đây cũng chỉ mới là những phác thảo cho một cách học văn hiệu quả, và tự bóc tách chính mình, để ra đề cho mình viết, cho siêng năng hơn, và bớt chai lì!

***
Tiếp tục tản mạn văn chương, xung quanh Đời Thừa của Nam Cao – một tác phẩm từng là nỗi ám ảnh những ngày đầu đi dạy. Trải nghiệm bằng tâm thế hiện giờ, xem thử lòng mình có khác!
Hộ là một nhà văn – một nhân vật mà Nam Cao gửi gắm chính mình trong đó rất nhiều. Những trăn trở về nghề nghiệp cũng là nỗi niềm đắng chát trước hiện thực và sự trăn trở của chính Nam Cao trên hành trình khát vọng của mình. Thời Nam Cao, danh xưng nhà văn thật cao quý, và ông đã thổi vào trong nhân vật của mình khát vọng sống nhân đạo và viết nhân đạo. nhân vật bị đặt giữa những xung đột nghệ thuật và cuộc sống, những suy tư giằng xé làm thế nào để được sống đúng là mình, không mang mặc cảm sống thừa. Bi kịch ấy chỉ có được ở những cây bút có lương tri, lương năng. Thời nay, khi các giá trị thực dụng lên ngôi, không biết cuộc sống có bao người như Hộ? Và giả sử Nam Cao tiếp tục phát triển những suy tư của mình về Hộ, thì liệu một khi nhà văn trải qua quá nhiều thực tế đắng chát, anh ta có còn ắp đầy giọt nước mắt ân hận, có còn nghiến răng tự rủa xả mình? Câu chuyện về Hộ, chuyện đời của Hộ dành cho những ai ôm hoài bão cháy bỏng về văn chương, không quá đề cao nghệ thuật tối thượng để tách rời khỏi những nhu cầu cơ bản nhất của đời sống cơm áo gạo tiền. Những mong làm một cái gì thật lớn lao, nhưng chỉ lo cơm áo gạo tiền đủ mệt óc – điều Nam Cao trăn trở ấy có lẽ không giới hạn trong thời ông sống mà là chuyện của muôn đời. Có thể ứa nước mắt vì thấy rằng giấc mộng viết tác phẩm “vượt lên trên mọi bờ cõi và giới hạn, là tác phẩm chung cho cả loài người” ở một xã hội rẻ rúng văn chương thì chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành hiện thực. Và như vậy, nhà văn Việt Nam chân chính mãi mãi lâm vào bi kịch. Truyện Nam Cao lớn vì mổ xẻ những điều vặt vãnh của cuộc sống một cách thấu đáo, không đại ngôn bốc đồng như những cây bút thích nói những điều to tát nhưng chuyển tải thông điệp cuộc sống bé con con. Có bao người khi ngồi trước trang giấy, cảm thấy mệt mỏi vì những áp lực cuộc sống biến mình thành kẻ vô tích sự, một người thừa như Hộ? Có lẽ trong các truyện của Nam Cao về đề tài trí thức, đây là một trong những tác phẩm nói về giá trị của tiền một cách có lý. Tiền bạc và Hạnh phúc với một nhà văn nghèo “có cả một gia đình phải chăm lo” dường như vận hành theo một chu trình trái ngược nhau. Nam Cao còn chỉ ra cả những nguyên nhân chủ quan làm nên bi kịch của Hộ là thói bốc đồng nghệ sĩ, căn bệnh sĩ khiến cho trong phút chốc tiền bạc không cánh mà bay theo những mơ ước viển vông xa vời và những lời đao to búa lớn. Những “văn sĩ” thời nay khi coi văn chương là một trò chơi, một cuộc chơi có thể kiếm cho họ rất nhiều tiền liệu có bĩu môi trước một anh Hộ của một thời không xa lắm? Sự nhạy cảm của một nhà văn đã khiến cho Nam Cao sau này đã viết truyện Đôi Mắt để nói về dạng “văn sĩ kiêm tay chợ đen” qua nhân vật Hoàng – một đối cực với Hộ của Đời Thừa. Nghĩa là Nam Cao trung thành với tín điều đã xác định “có ai giàu có bạc vạn đem đổi lấy cái khổ thì vị tất đã đổi của mình”. Cái khổ của sự sáng tạo với Nam Cao dường như không song hành với tiền bạc như nước. Và nhà văn khi để đồng tiền chi phối thì văn chương dường như cũng nhạt đi. Hộ là một mẫu hình trí thức theo quan niệm Nam Cao – thuần túy không pha tạp chất con buôn của những tay đầu cơ chữ nghĩa và đánh đĩ văn chương. Bởi thế nhân vật cũng là một cảnh tỉnh với những người cầm bút.
11.2011
T.H.N

Thử vài đoạn phân tích văn theo nhiều phong cách…

Phân tích văn có qui tắc nhưng cũng rất ngẫu hứng! Điều quan trọng là không để cho cảm xúc bị chai, điều này thật khó với những giáo viên dạy lâu năm, để cho thao tác phân tích dần dần đi vào lối mòn! Nếu không luyện viết, lâu ngày sẽ đến lúc bị rơi vào trạng thái như một cái máy, lặp đi lặp lại một vài giọng điệu phân tích.
Rảnh quá, không làm gì cho tập trung, lại bị cuốn vào hành trình lang thang mạng, nên quyết định dành thời gian còn thức này, viết tập vài đoạn phân tích, cho đỡ nhàm! Vì là ngẫu hứng, nên sẽ không coi đây là chuẩn mực cho ai cả, mà chỉ là kiểm tra khả năng viết của chính mình. Có thể trong quá trình viết, nổi hứng viết hài một tí cũng chả sao, coi như là cách xả xì trét.
Trước hết là tự ra đề cho mình: Chọn một đoạn văn trong trích đoạn VỢ CHỒNG A PHỦ của Tô Hoài diễn tả tâm trạng của Mị trong đêm cắt dây trói cứu A Phủ.

Về các ý sẽ phân tích:- Sự đối lập không gian và con người: Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn –> Mị ra sưởi lửa, chỉ biết chỉ còn với ngọn lửa >< tâm hồn lạnh băng, đầy bóng tối bi kịch - Phân tích trong tương quan từng đoạn văn, theo tiến trình: Ngọn lửa sưởi bùng lên – ngọn lửa bập bùng – đám than vạc hẳn lửa – trong nhà tối bưng – trời tối lắm <–> MỊ: nhìn – thản nhiên (A Phủ có là cái xác chết cũng vậy) –> lé mắt nhìn “dòng nước mắt chảy xuống hai hõm má đã xám đen” của A Phủ – đồng cảm, bất bình (nghĩ đến người đàn bà bị trói đến chết – Chúng nó thật độc ác – A Phủ cũng sẽ chết đói, chết đau, chết rét, phải chết) –> Mị nghĩ mình bị trói thay cũng không sợ –> (A Phủ nhắm mắt, thở phè từng hồi) cắt dây trói, hoảng hốt giục A Phủ chạy –> đứng lặng trong bóng tối –> chạy theo A Phủ – tự giải phóng chính mình, cắt sợi dây trói vô hình).

BẮT ĐẦU CHỌN VÀ VIẾT ĐOẠN PHÂN TÍCH MỘT Ý TRONG ĐOẠN TRÍCH:

1. Tô Hoài dựng lên một trường đoạn tâm lý nhân vật đầy xung đột, trong đoạn trích điển hình về Mị trong “những đêm mùa đông trên núi cao thật dài và buồn” với sự đối lập Ánh Sáng – Bóng Tối. Bóng tối của hiện thực và Ánh sáng của tâm hồn! Hai chu trình vận động khách quan và chủ quan trái chiều nhau. “Ngọn lửa sưởi” là chi tiết nghệ thuật đắt giá, càng lúc càng lụi dần đi và cuối cùng chỉ còn lại một bóng tối mênh mông cả trong nhà lẫn ngoài nhà. Nhưng có một ngọn lửa khác của tình thương, lòng căm hận, sức phản kháng cứ nhen nhóm dần lên trong lòng Mị, dẫn đến quyết định táo bạo của cô cắt dây trói cứu A Phủ và tự cứu lấy chính mình. Qua đoạn trích, ta nhận ra khát vọng sống, khát vọng tự do vẫn âm ỉ trong lòng Mị, và tạo nên sự phục sinh tâm hồn của cô. Đó cũng là dụng ý nghệ thuật của nhà văn, chứa đựng tư tưởng nhân đạo sâu sắc, lời khẳng định cho vẻ đẹp và sức sống tâm hồn Mị bộc lộ trọn vẹn. Tình thương của Mị làm nên sức mạnh. Thương người và thương cả chính mình, không có gì trọn vẹn hơn là phải hành động để cứu người và tự cứu chính mình. Đó cũng là bức thông điệp chứa đựng cảm hứng lãng mạn, chất thơ trong cảnh vật và con người Tây Bắc qua ngòi bút Tô Hoài.
2. Đọc đoạn trích về tâm trạng của Mị trong đêm cắt dây trói cứu A Phủ, chắc hẳn lòng chúng ta còn mang theo bao ám ảnh về hình tượng nhân vật trong tương quan với ngọn lửa sưởi. Người con gái tài hoa xinh đẹp tự do mà cuộc sống hiện tại chìm đắm trong tủi nhục câm lặng, ngỡ như tê liệt mọi giác quan, cảm xúc đã đi đến một quyết định táo bạo, dũng cảm khi cắt đi sợi dây trói thòng lọng bóp nghẹt sự sống của chàng trai A Phủ và tự cắt sợi thòng lọng định mệnh “bóng ma nhà thống lý” ám ảnh trong tâm hồn. Làm sao mà không rưng rưng xúc động trước sự hồi sinh kì diệu như cây khô đâm chồi, gương vỡ lại lành của Mị? Cái nhìn của cô đã được nhà văn khắc họa bằng tất cả tài nghệ miêu tả của một cây bút bậc thầy, chứa đựng biết bao nhiêu uẩn khúc tâm trạng, bùng cháy thành ngọn lửa của tình thương yêu và quyết tâm hành động cứu người cứu mình! Tâm hồn cô từ chỗ bị phong tỏa trong bóng tối mịt mùng của định mệnh – gắn chặt với sự giám sát theo dõi của “con ma nhà thống lí” – nhen nhóm dần một ngọn lửa tình thương, từ chỗ âm ỉ đến chỗ bùng phát mãnh liệt. Ngọn lửa ấy làm khô đi “dòng nước mắt lăn xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ, thiêu đốt sợi dây trói bạo quyền ma mị bó rịt lấy cuộc đời của chính cô. Quá trình phát triển tâm lí của Mị diễn ra hết sức tự nhiên và chân thật, mộc mạc đã cất lên thành tiếng trong những lời trần thuật nửa trực tiếp, từ chỗ “thản nhiên” trong cái nhìn dửng dưng vô cảm đến chỗ thổn thức nghĩ về bất hành đời mình và xót xa cho nỗi oan ức của chàng trai trẻ đang uất hận thấy cái chết từ từ đến với mình, để rồi tiếp thêm cho cô sức mạnh vượt qua nỗi sợ hãi mơ hồ tìm đến con đường giải thoát, hướng về tự do, tìm lại sự sống đích thực cho chính mình. “Chất thơ vời vợi bay lên từ cảnh sắc và con người Tây Bắc” chính là khát vọng mãnh liệt của người phụ nữ tích tụ trong trái tim để bùng lên phá tung màn đêm dày đặc của hiện thực, hướng về ánh sáng tự do, sống một cuộc đời mới đúng nghĩa. Mị – con người tự ý thức! Mị – con người vượt lên chính mình! Mị – tất cả sự thương yêu trân trọng của nhà văn dành cho con người.
3. Ta đã thấy gì ở Mị? Con người lạnh lùng vô cảm làm sao! Ta bị trói đứng nơi góc cột, phải chăng em “thản nhiên” vì cảnh tượng này đâu có xa lạ với em? Mắt ta mở trừng trừng trong tuyệt vọng, nhưng soi vào mắt em ta chỉ thấy vô hồn! Ngọn lửa sưởi kia ơi, liệu có sưởi được trái tim em đang băng giá? Cú đạp của thằng A Sử làm ta sôi sục trái tim hào hiệp, nhưng ta đành bất lực nhìn em tiếp tục ngồi dậy trong lặng câm “chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa”. Chả lẽ nhà thống lí Pá Tra đã làm em thành gỗ đá mất rồi sao?
Ồ, em lé mắt nhìn sang ta!!! (Có phải là em bị mắt lé!!!???) Em vẫn còn thấy sự hiện diện của ta sao? Dẫu chỉ là một chút thoáng qua… Em có thấy dòng nước mắt của ta đang chảy? Ta kiệt sức rồi, hõm má ta đã xám đen! (Hmm, thằng thống lí Pá Tra mất dạy nó trói và bỏ đói ta không cho ăn uống gì cả!). Em nghĩ gì hả Mị? Có phải là em nghĩ về ngày em bị trói đến gục ngã, nghĩ về những người đàn bà bị trói đến chết cũng ở góc nhà này! Chúng nó thật độc ác phải không em! Ta làm gì nên tội? Tại sao ta phải chết, khi ta đang còn muốn sống! Nhưng trời ơi, sợi dây trói thít vào thịt da ta như có lửa xát vào tận xương tủy. Ta…ta… không thể tự cứu được mình rồi! (Biết thế hôm đó ta chạy quách cho xong, có các vàng ta cũng không tự tay đóng cọc trói mình để giờ đây ta nhận ra sự ngu muội của mình, nó coi ta còn thua con bò nhà nó!!! Đúng là ta ngu như bò!) [HE HE, NỔI MÁU TÀ LÊN PHÂN TÍCH THEO ĐIỂM NHÌN NHÂN VẬT A PHỦ XẢ STRESS TRƯỚC KHI ĐI NGỦ! 2 H SÁNG RỒI! NGỦ THÔI! LÚC NÀO CÓ HỨNG LẠI TIẾP TỤC!]

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – Cái Đẹp trong xiềng gông!?

Giảng dạy bao nhiêu năm bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, tuôn ra không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp về đối lập Bóng tối – Ánh sáng, về hiện thân của cái Tài – cái Đẹp – cái Thiên lương, bị ám không ít bởi bài viết của thầy Nguyễn Đăng Mạnh hết lời ca ngợi con người vô úy… Thế nhưng, khi tự mình đọc lại tác phẩm, mới thấy một tình tiết đáng suy ngẫm, không dám phán bừa mà từ sự cẩn trọng cần thiết của cái gọi là “hoài nghi khoa học”, viết để cùng trao đổi với những người quan tâm.

Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, cảnh cho chữ được  nhiều người tâm đắc. Bản thân tôi từng giảng say sưa về “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” khi Huấn Cao – người tử tù – đang dồn hết tâm lực viết những dòng chữ cuối cùng trên “tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ”. Đó là thời điểm để cho ba con người – ba đốm sáng nhỏ cô đơn hội tụ trong tình yêu cái Đẹp… Nét chữ của Huấn Cao là hiện thân của “hoài bão tung hoành một đời con người” để cho một người cả đời sống trong bóng tối và sự sợ hãi đã  được đón nhận trọn vẹn Cái Đẹp ấy trong khoảnh khắc thốt lên lời nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”…
Có nghĩa là theo chiều hướng phân tích xưa nay, tác phẩm là một đỉnh cao tư tưởng Nguyễn Tuân, hàm chứa quan niệm Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám về Cái Đẹp. Cụ Nguyễn được tán tụng nhiều, nên có lẽ khi nghe phản biện này không biết Cụ có về vặn cổ thằng lắm chuyện hậu sinh này không? Nhưng không nói ra thì ấm ức, mà cũng chưa thấy ai nói! Thôi thì có bị chửi là dốt, là ngạo mạn như Trần Đăng Khoa cũng đành!!!
Đoạn khiến cho kẻ hậu sinh này băn khoăn là khi nhà văn đặc tả Huấn Cao trong vai trò người nghệ sĩ sáng tạo cái Đẹp: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồngtiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…“.
Bây giờ đọc kĩ, ngẫm lại, thấy sao mà người-sáng-tạo-Cái-Đẹp bị đối xử một cách tàn tệ đến thế! Vì trước đó, viên quản ngục được biết đến như là người có “lòng biết giá người, biết trọng người ngay”, đã từng bị Huấn Cao xua đuổi mà chỉ biết im lặng lui ra với lời “Xin lĩnh ý”! Nhân vật này cũng từng tự biết mình khi so với Huấn Cao “những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”! Ông ta cũng biết để có chữ của Huấn Cao cho thỏa sở nguyện thì không thể dùng quyền lực hay dụ dỗ mà có được nên rất khổ tâm…
Ấy vậy mà trong buổi tối cuối cùng, viên quan coi ngục kia lại để tâm hết vào nét cỉhữ Huấn Cao mà quên khuấy phải đối xử thật sự trọng thị với người cho chữ. Ông ta chỉ quan tâm đến nét chữ – “báu vật trên đời” mà để cho người nghệ sĩ sáng tạo vẫn phải “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”! Quả là một tình tiết vô lý, nếu như không muốn nói là vô đạo, trong hoàn cảnh chỉ có ba người: Huấn Cao – quản ngục – thầy thơ lại trong căn buồng nhà ngục! Phải hiểu ra sao dụng ý của cụ Nguyễn Tuân đây?
Thử đưa ra vài cách cắt nghĩa:
- Cụ Nguyễn muốn “tô đậm nét độc đáo phi thường” nhấn mạnh bằng thủ pháp đối lập Cái Đẹp với Cái Xấu, Tội ác… nên sẵn sàng tạo một khung cảnh đối lập con người – hoàn cảnh theo tinh thần lãng mạn, bất chấp thực tế!
- Cụ Nguyễn muốn nói lên tình trạng sáng tác của người nghệ sĩ trong chế độ thực dân phong kiến, sáng tạo cái Đẹp trong gông xiềng, nhưng không muốn cái Đẹp tồn tại trong nhà ngục (như lời Huấn Cao nói ở phần sau: “Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”).
Nếu lí giải theo cách đó, có lẽ sẽ đẹp lòng những ai muốn đề cao Huấn Cao, đề cao Cái Đẹp! Nhưng nếu như vậy thì ta phải đánh giá ra sao đây về nhân vật quản ngục?
Ông ta là người đứng đầu bộ máy đàn áp, là kẻ có thừa mánh khóe và luôn cẩn trọng trong công việc mẫn cán của một viên quan coi ngục. Thử xem ban đầu ông ta sợ hãi tái mặt như thế nào khi nghe lời nói buột miệng của thầy thơ lại: “Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn.”. Đối xử với tù, ông ta cũng cùng một giuộc với bọn lính cậy quyền uy. Bằng chứng thầy tớ hiểu nhau là khi “Mấy tên lính, khi nói đến tiếng “để tâm” có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra” (nhưng hôm ấy lại là Huấn Cao – người sở hữu “báu vật” – nên ông ta đối xử khác ngày thường mà thôi!). Thủ đoạn của viên quan coi ngục này cao hơn nhiều, khi ngày ngày dâng rượu thịt cho Huấn Cao xơi (nhưng hậu quả là bị bẽ mặt khi dùng trò mua chuộc bị Huấn Cao lật mặt!). Cuối cùng, vì sự thèm khát có nét chữ Huấn Cao, viên quản ngục này đã bất chấp cả phép nước, cùng đồng phạm là thầy thơ lại táo gan xin chữ Huấn Cao trong nhà ngục – một hành động có thể mất đầu! Huấn Cao hoặc là ngây thơ, hoặc là không thèm chấp, hoặc là bao dung với quản ngục, vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục mà bỏ qua không thèm đếm xỉa gông trên cổ và xiềng dưới chân mình! Trớ trêu và bi hài thay cho người nghệ sĩ vào phút sáng tạo cuối cùng của mình đã giao báu vật cho một kẻ vô đạo, lại nói với hắn những lời như tri âm tri kỉ!
Nhiều người say sưa với ý tưởng đề cao quản ngục như là người biết yêu Cái Đẹp thật sự, thậm chi cho rằng hành động chắp tay cảm động thốt ra lời “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!” chẳng khác nào cái chắp tay của Chu Thần Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu chắp tay trước hoa mai). Giả sử không có cái chi tiết cụ Nguyễn Tuân đưa vào “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng…” thì kẻ viết bài này cũng tin như thế! Còn chi tiết này tồn tại trong tác phẩm thì xin phép tất cả những ai yêu mến đề cao viên quản ngục mà thốt lên rằng : viên quản ngục này là một thằng đểu thượng thừa!
Bởi nếu là một người đã thật sự vượt qua sự sợ hãi quyền uy và tội ác,  thật sự hết lòng vì Cái Đẹp, thì trước hết phải đối đãi với Huấn Cao như với một kẻ sĩ thật sự! Chua chát thay, một kẻ như vậy mà lại là “biết đọc vỡ nghĩa sách Thánh Hiền” sao? Tất nhiên trong hoàn cảnh ấy, không thể mời Huấn Cao về nhà mà khoản đãi rượu thịt, đốt trầm thắp bạch lạp cho Huấn Cao viết chữ, vì có thể làm cho tội vào thân mà chữ cũng mất! Nhưng nơi nhà ngục, ông ta có toàn quyền sinh sát, có thể tháo gông mở xiềng, sao ông ta không làm? Chỉ có thể kết luận: đến giờ phút ấy, ông ta vẫn là một ngục quan cẩn trọng, sợ phép nước, có biến cố gì thì có thể phủi tay chối tội! Còn được nét chữ Huấn Cao rồi, tiếc gì vài giọt nước mắt cá sấu mà không nhỏ ra cho đẹp tư thế người “biệt nhỡn liên tài”? Không thể nghĩ khác được: đây là kẻ có thủ đoạn đối nhân xử thế bậc thầy, không chỉ lừa được Huấn Cao, lừa thầy thơ lại mà lừa…cả bao người đọc dễ tính! Không biết cụ Nguyễn có định dựng chân dung một ngụy quân tử ở viên quản ngục không mà để cái chi tiết Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ”
Cụ Nguyễn viết về thú chơi thư pháp, ắt hẳn phải biết đầy đủ những nghi lễ thư pháp đích thực để có nét chữ thể hiện trọn vẹn thần thái khí phách người viết chữ! Hay cụ cũng muốn phút giây ấy Huấn Cao chơi ngông không thèm tháo gông mở xích? Liệu nét chữ ra đời trong khi cổ vướng gông, chân vướng xiềng có thể thỏa chí tung hoành không?
Một chi tiết như vậy tồn tại trong văn bản, nếu như cụ Nguyễn Tuân muốn đề cao quản ngục và Huấn Cao, thì tiếc thay, “yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau”!
TRẦN HÀ NAM

Bài thuốc THẦN DƯỢC CỨU MỆNH

Bài thuốc THẦN DƯỢC CỨU MỆNH của lương y Nguyễn An Định. Hiện nay, cha tôi – người thừa kế một phần nghiệp Đông y của ông nội tôi là cụ Cử nhân Hán học Hà Trì Trần Đình Tân đang dồn sức nghiên cứu phát triển bài thuốc này! Bản thân ông sử dụng chữa viêm tắc tĩnh mạch, nghẽn phỗi khá hiệu quả.
Bài thuốc này trước kia được đưa lên trang “Bạn Trỗi” của vnweblogs.com, tôi đã đánh máy bổ sung phần còn thiếu từ tài liệu photo của cha tôi. Xin giới thiệu rộng rãi với mọi người!

>Với tôi, Trịnh Công Sơn…

>

Có lẽ tôi bắt đầu biết nghe nhạc Trịnh từ cuối thời phổ thông và suốt những năm tháng học Đại học. Tôi tự hào vì ông là sinh viên trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, vì vậy khi nghe những Biển Nhớ, Hạ Trắng…tôi cứ cố hình dung ông viết ở nơi nào trong khuôn viên của trường Đại học!

Cũng lạ, chẳng hiểu sao những năm 86 – 90 quán xá lại nhiều băng Khánh Ly hát đến thế, có điều thời đó còn nhầm lẫn khi Khánh Ly hát Trầm Tử Thiêng mà cũng nghĩ đó là Trịnh! Cũng phải thôi, vì chúng tôi đâu có sinh ra và lớn lên ở miền Nam, đâu có dịp tiếp xúc hết với gia tài của Trịnh. Còn nhớ ở Quán cà phê Kem – Biên Cương ngồi nghe và hình dung qua những ca khúc Da Vàng: “Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi lắng nghe…”, thương cho đất nước và con người Việt Nam phải chịu cảnh đạn bom khốc liệt quá lâu! Và cảm nhận nỗi đau của người nghệ sĩ qua lửa đạn chiến chinh!

Còn nhớ những khoảnh khắc hàng giờ liền ngồi thiền nghe nhạc Trịnh, cảm nhận qua màn mưa những lời thủ thỉ “…mưa vẫn mưa bay qua miền đất rộng – Ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau…”! Nhạc Trịnh nghe vào những ngày mưa buồn thật, nhưng lại thấy lòng trong trẻo lạ! Có khi đi chơi vào Gành Ráng hay Quy Hòa, gặp hôm nắng đẹp là lại nghêu ngao: “Gọi nắng, trên vai em gầy, đường xa áo bay, nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say…”

Rồi mưu sinh mỏi mệt, thành công và thất bại trong cuộc sống cũng nhiều, lại tìm đến Trịnh như một nguồn an ủi, như tìm chút động viên. Còn nhớ, khi trải qua cảm giác ê chề vì bị sỉ nhục (dù rằng là thông tin sai), cả một đêm nghe đi nghe lại không chán bài hát “Tôi ơi, đừng tuyệt vọng” qua giọng ca của chính ông, và nhận lời an ủi của anh bạn cùng trường đang học bên kia bờ đại dương, thấy lòng vơi phiền muộn rất nhiều. Và như phép màu, qua 1 giờ đêm, từ nỗi tủi nhục biến thành niềm hạnh phúc vô bờ khi thông tin được đính chính. Lại có cảm giác Trịnh như đã đến bên mình, dịu nhẹ vỗ về…

Và còn bao lần nghe Trịnh, trong cảm giác lòng thắt lại vì thương những cảnh ngộ thiệt thòi, những số phận trớ trêu. Lúc ấy, lại vang lên lời hát như nhắn nhủ: “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…”

Vâng, để gió cuốn đi….

Thấm thoắt đã 10 năm. Ngày ấy, ngồi tại trường, đúng ngày Cá tháng Tư, đọc tin trên báo cứ ngỡ ngàng sửng sốt như một trò đùa. Tạo hóa thật nghiệt ngã chọn đúng ngày Cá để đón Trịnh về…Đến nỗi, khi đưa thông tin nóng lên mạng home.vnn.vn mình còn bị mắng: đùa gì mà ác thế! Và hơn 10 ngày sau, khi có mặt tại Sài Gòn, mình đã đến quán Sài Gòn Xanh dự một đêm tưởng niệm Trịnh thật đặc biệt do nhóm bạn ở Quãng Ngãi tổ chức. Hôm đó, đã hát như lên đồng liên khúc “Cát Bụi – Tình Xa”, dù còn có chút vấp váp nhưng cũng đủ cho cảm nhận nỗi bàng hoàng: Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi, cát bụi mệt nhoài, mặt trời soi một kiếp rong chơi(…) Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày (…) Ngày tháng nào, đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã lên khơi ta còn mãi nơi đây. Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mê…

Thấm thoắt đã 10 năm, nhạc Trịnh vẫn còn làm ta nhớ bao ngày tháng đã đi qua, dù cho “mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi”. Nhạc Trịnh vẫn vang ngân, “dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai…”

>Thơ Trần Hà Nam treo tại Nhạn Tháp (Phú Yên)

>
Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện đi Phú Yên dự ngày thơ, đã chụp được bài thơ treo trên đường lên núi Nhạn Tháp của Trần Hà Nam! Một kỉ niệm đẹp và anh đã gửi cho tôi những bức ảnh này!

Ảnh 1: Bài thơ SEN VÀ BÙN
Ảnh 2: Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện bên bài thơ trên đường lên núi Nhạn

>LẠM BÀN VỀ PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC TRONG ĐỀ THI HSG QUỐC GIA NGỮ VĂN 2011

>

Đề cho : Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là kết quả của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính. Và yêu cầu phân tích một số tác phẩm từ VHDG đến văn học hiện đại để làm sáng tỏ nhận định. Một đề văn như thế này, xác định rõ khái niệm đã đổ máu mắt, huống chi phải làm một tập hợp từ cả hai bộ phận văn học, phải làm sao bao quát cả văn đến thơ, kịch… và phải giải quyết gói gọn trong khoảng thời gian nhiều nhất là 150 phút (bời lẽ câu NLXH 8 điểm cũng không thể viết dưới 30 phút được!) trong tổng thời gian 180 phút.
Thực ra khái niệm tính nữ trong văn chương đã râm ran từ những năm bắt đầu có sự chuyển mình, đổi mới văn học sau 1986. Tuy nhiên, nâng tầm lên một vấn đề có ý nghĩa lí luận thì lại không phải là dễ dàng. Chưa kể khái niệm về “nữ tính” như đề ra có đòi hỏi phải giới hạn trong văn học Việt Nam hay không? Nữ tính là vấn đề dân tộc hay vấn đề nhân loại? Nghĩa là ngay từ đầu phạm vi của đề ra đã không chuẩn mực. Bởi lẽ với học sinh giỏi chưa từng có giới hạn chỉ học phần Văn học Việt Nam, mà ngay trong các chuyên đề chuyên sâu cũng có học phần văn học nước ngoài. Nếu giới hạn trong phạm vi lí luận lại càng nên lấy các tác phẩm văn học nước ngoài làm chuẩn mực (điều này chắc chắn khỏi phải bàn cãi vì các học giả của chúng ta cho đến các nhà văn vẫn quen truyền thống lấy văn chương nước ngoài Đông Tây Kim Cổ làm chuẩn mực).
Còn ra đề kiểu chấp nhận cho các em nói chung chung, đại khái: thật sự thành công nghĩa là tác phẩm phải đạt đến giá trị Chân – Thiện – Mĩ… Nữ tính là tập hợp Công – Dung – Ngôn – Hạnh; phụ nữ phải là người bà, người mẹ, người vợ, người chị, người em gái, người tình… thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi cách nhìn phiến diện. Còn đòi hỏi các em phải nắm vững các khái niệm “nữ tính”, “mẫu tính” thì e rằng các em khỏi cần học Đại học làm gì mà học thẳng lên thạc sĩ, tiến sĩ!!! Còn trình độ phổ thông thì đưa ra khái niệm này quả thật giống như đánh đố nhau! Tôi dám đoan chắc ở 63 tỉnh thành, đưa đề này cho các giáo viên dạy chuyên cự phách làm, đố ai dám bảo đảm mình đã trình bày thật sự rõ ràng khái niệm “nữ tính”, dám cam đoan chỉ qua “một số tác phẩm” từ VHDG đến VHHĐ mà làm “sáng tỏ nhận định” được! Và tôi cũng vui lòng làm một giám khảo chấm bài của học sinh nào đạt giải Nhất của kì thi lần này mà đạt điểm tối đa còn tồn tại vô số những lỗi kiến thức! Bởi lẽ toàn bộ những tiêu chí của đề đều không đạt đến chuẩn mực cần phải có của một đề mở.
Đề mở này có hai hướng giải quyết: theo hướng lấy hình tượng phụ nữ làm chuẩn thì phải bắt đầu từ khái niệm hình tượng văn học để hình thành tiêu chí cho hình tượng phụ nữ; hướng thứ hai là xem như một đề lí luận văn học, lấy cơ sở là hình tượng phụ nữ để làm rõ khái niệm nữ tính trong văn học. Nhưng dù giải quyết theo hướng nào thì cũng không trọn vẹn bởi lẽ yêu cầu phân tích để làm sáng tỏ không chuẩn! Nếu lấy điểm xuất phát là “Văn học dân gian” thì phải có mệnh đề tiếp theo là “đến Văn học viết” thì mới bảo đảm tính khái quát tổng hợp của đề. Còn yêu cầu như đề này thì dẫn chứng không thể là “một số” (được hiểu ngầm là từ 2 trở lên) mà bắt buộc phải có Văn học dân gian – Văn học hiện đại! Mà như vậy thì sẽ thiếu sức bao quát! Vì mỗi bộ phận văn học, mỗi khuynh hướng, mỗi trào lưu, mỗi giai đoạn văn học lại có những chuẩn mực riêng về nữ tính, không thể đánh giá toàn diện được! Chưa kể là dẫn chứng hoàn toàn có thể lựa chọn cả VHDG nước ngoài, VHHĐ nước ngoài (nàng Sita trong Ramayana hay Phăngtin trong đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền – Những người khốn khổ đều đạt đến phẩm chất của hình tượng văn học thật sự thành công!).
Một đề ra không chuẩn như vậy, sẽ không thể tìm ra những bài văn thực sự hay! Và người ra đề chưa đủ tầm bao quát và hình dung không nổi thực trạng học sinh giỏi Văn sẽ phải khổ sở như thế nào với kiểu đánh đố này!

Trần Hà Nam